Wellcome to A1 the minions of paba Phương

This is the venue of the future stars and the talent of the country.
 
IndexCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Một số thuật ngữ trong sử 11

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
pepu3B_mupmip
Member
Member


Tổng số bài gửi : 10
Join date : 19/06/2011
Age : 21
Đến từ : la2

Bài gửiTiêu đề: Một số thuật ngữ trong sử 11   Wed Aug 17, 2011 7:25 pm

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CẦN HÌNH THÀNH CHO HỌC SINH

- Sô-gun (Tướng quân): Tước hiệu do Thiên hoàng phong cho những người cầm quyền quân sự thời kì Mạc phủ ở Nhật Bản; là người đứng đầu chính quyền quân sự. Chính quyền Sô-gun tồn tại song song với chính quyền Thiên hoàng cho tới năm 1868, khi Mạc phủ Tô- cư-ga-oa bị lật đổ. Thực tế quyền hành trong nước tập trung trong tay chính quyền quân sự của Tướng quân, còn Thiên hoàng chỉ là hư danh.
- Minh Trị: tên Tiếng Nhật là Mây-gi Tên-nô là tên gọi vua Nhật Bản Mut-sư-hi-tô, người tiến hành cuộc Duy Tân ở Nhật Bản từ năm 1868
- Duy tân Minh Trị: Cuộc cải cách do Minh Trị tiến hành sau khi lật đổ chế độ Mạc phủ. Thực chất đó cuộc cách mạng tư sản không triệt để, thủ tiêu chế độ phong kiến cát cứ, xóa bỏ những cản trở của chế độ phong kiến, thúc đẩy kinh tế tư bản. Kết quả, Nhật Bản trở thành một nước tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi sự thống trị, áp bức của chủ nghĩa thực dân phương Tây và một nước đế quốc, đi xâm chiếm thuộc địa.
- Công ti độc quyền: Công ty lớn tư bản chủ nghĩa chi phối các mặt kinh tế và có ảnh hưởng lớn về chính trị. Một trong những biểu hiện cho thấy chủ nghĩa tư bản ở Nhật chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa là sự xuất hiện các công ty độc quyền như công ty độc quyền Mitxưi, công ty độc quyền Mitxumitxi...
- Quân phiệt
1. Chính sách phản động của các nước đế quốc trong việc vũ trang và tiến hành chiến tranh xâm lược.
2. Bọn quân nhân phản động dựa vào lực lượng quân đội để nắm quyền bính, kìm kẹp, đàn áp nhân dân và các phe phái đối lập chống lại chúng
- Quân đội Xi-pay: Là tên gọi những đơn vị binh lính người Ấn Độ trong quân đội đế quốc Anh
- Hin đu giáo: Một loại tôn giáo cổ xưa và lớn nhất ở Ấn Độ. 95% tín đồ sống ở Ấn Độ còn lại là sống ở Pakixtan, Nêpan và Bănglađét…Hinđu giáo thờ 3 thần chính Thần Brahma (Thần sáng tạo), Thần Siva (Thần hủy diệt), Thần Visnu (Thần bảo vệ)
- Hồi giáo: là một trong ban tôn giáo lớn trên thế giới, xuất hiện đầu thế kỉ thứ VII ở miền nam bán đảo Arập, do Môhamét sáng lập thờ thánh Ala, bộ kinh duy nhất là kinh Coran
Trong đạo luật Bengan, thực dân Anh đã lợi dụng sự khác biệt giữa hai tôn giáo trên để chia cắt xứ Bengan thành hai phần, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến bùng nổ những cuộc đấu tranh của nhân dân trong cao trào cách mạng 1905 – 1907.
- Đảng Quốc Đại Ấn Độ: Đảng của giai cấp tư sản Ấn Độ, thành lập năm 1885 để đấu tranh chống sự thống trị của thực dân Anh. Người sáng lập là Găngđi với cương lĩnh “kháng cự không bằng bạo lực”.
Trong 20 đầu sau khi thành lập, Đảng Quốc đại phân chia thành hai phái “ôn hòa” và phái “cực đoan”
- Phái ôn hòa: những người không chủ trương đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt thường tự coi mình đứng giữa không ngả về phái cách mạng, cấp tiến cũng như phái phản động, bảo thủ.
- Phái cực đoan: do B. Tilắc đứng đầu, phản đối thái độ thảo hiệp của phái ôn hòa và đòi hỏi phải có thái độ kiên quyết chống thực dân Anh
- Đạo luật Bengan: Thực dân Anh ban hành đạo luật Bengan nhằm chia xứ này làm đôi dựa vào những khác biệt về tôn giáo: miền Đông theo đạo Hồi và miền Tây theo đạo ấn. Thực tế đây là chính sách chia để trị.

- Chiến tranh thuốc phiện ("chiến tranh nha phiến"): Chiến tranh xâm lược Trung Quốc của thực dân phương Tây. Gồm 2 cuộc chiến tranh, nổ ra lần thứ nhất( 1840 - 1842) và lần thứ hai (1856 - 1860), do thực dân phương Tây, chủ yếu là Anh gây ra. Chúng vịn vào cớ chính quyền Mãn Thanh đã cấm nhập, bán thuốc phiện và đốt nhiều hòm thuốc phiện mà không bồi thường cho chúng. Thực chất đây là một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mục đích cướp đoạt và nô dịch toàn bộ Trung Quốc. Cả hai lần chiến tranh, triều đình phong kiến Trung Quốc phải ký với các nước tư bản phương Tây nhiều điều ước bất bình đẳng và mở đầu cho quá trình Trung Quốc trở thành nước phong kiến nửa thuộc địa.
- Cách mạng Tân Hợi 1911: Cuộc cách mạng do giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc lãnh đạo mà người đại diện là Tôn Trung Sơn. Cách mạng nổ ra ngày 10-10-1911 (năm Tân Hợi) ở Vũ Xương, nhanh chóng lan ra cả nước. Ngày 1-1-1912, thành lập nền cộng hoà, Tôn Trung Sơn được cử làm tổng thống. Do sự can thiệp, giúp đỡ của các nước đế quốc, Viên Thế Khải đã thiết lập chế độ độc tài đàn áp cách mạng. Tháng 3-1913, Cách mạng Tân Hợi kết thúc.
Đây là cuộc cách mạng có ý nghĩa lớn nhất trong thời kỳ cách mạng dân chủ của Trung Quốc. Nó lật đổ nền thống trị 260 năm của triều đại phong kiến Mãn Thanh, kết thúc hơn 2000 năm chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế, khai sinh ra nước Trung Hoa dân quốc, có tác dụng nhất định trong việc góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng Trung Hoa phát triển.
Cách mạng Tân Hợi và Chủ nghĩa tam dân có ảnh hưởng đến các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nó là cuộc cách mạng dân chủ, đánh dấu sự thức tỉnh của nhân dân châu Á vào đầu thế kỷ XX trong cuộc đấu tranh dành độc lập, tự do và các quyền dân chủ cho nhân dân.
- Nghĩa hòa đoàn: Phong trào yêu nước của nhân dân Trung Quốc chống đế quốc xâm lược (1898 - 1900). Lúc đầu nhà Thanh hợp tác với Nghĩa hoà đoàn chống đế quốc. Sau vì thấy Liên quân 8 nước (Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga, Italia, Áo, Hung, Nhật) hợp lực đàn áp, nên triều đình quay sang cấu kết với đế quốc chống cuộc khởi nghĩa. Phong trào bị dập tắt vào tháng 8 -1900.
- Thái Bình Thiên Quốc: Cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc chống chế độ phong kiến và triều đình Mãn Thanh. nhằm xây dựng một xã hội thái bình (1851 - 1864). Phong trào phát triển dưới khẩu hiệu đấu tranh cho việc phân chia đều ruộng đất, cho sự bình đẳng về mọi mặt, cho lòng bác ái và cho việc thành lập một nước gọi là "Thái bình thiên quốc". Quân Thái bình thiên quốc, gọi là Thái bình quân. Sau khi đã đánh tan những đội quân của Chính phủ và của bọn phong kiến địa phương, đến cuối 1852, "Thái bình thiên quốc" đã tiến đến sông Trường Giang, và tháng 3 - 1853, chiếm Nam Kinh, tuyên bố thành phố này là thủ đô của nước mình, đứng đầu Nhà nước là Hồng Tú Toàn. Triều đình Mãn Thanh đã liên kết với bọn thực dân Anh, Pháp, Mỹ tấn công quân khởi nghĩa. Năm 1864, cuộc khởi nghĩa đã bị đàn áp dã man. Thái Bình Thiên Quốc có nhiều chính sách tiến bộ (chia đều ruộng đất cho nông dân, nam nữ bình đẳng, quyền độc lập dân tộc…), song cũng có một số hạn chế (tư tưởng bình quân, chia rẽ, tranh giành quyền lực…).
- Thuộc địa - nửa phong kiến: Những nước bị các nước đế quốc chủ nghĩa cai trị, bóc lột. Về thực chất đó là một nước thuộc địa, nhưng vẫn được duy trì chế độ phong kiến bằng cách nuôi dưỡng, sử dụng bọn tay sai phong kiến bản địa để tăng cường thống trị, đàn áp nhân dân.
- Duy tân: Phong trào đấu tranh đòi thay đổi theo cái mới, cái tiến bộ, bỏ cái cũ, cái lạc hậu trong đời sống xã hội, xây dựng đất nước. Cuộc Vận động Duy Tân ở Trung Quốc diễn ra năm 1898 do hai nhà yêu nước Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu lãnh đạo . Phong trào hoạt động chủ yếu trong tầng lớp sĩ phu tiến bộ, không dựa vào nhân dân, nên nhanh chóng thât bại khi gấp phải sự phản đối của phái phong kiến thủ cựu.
- Xâu xé: Dùng sức mạnh để tranh giành chia nhau đất đai. Các nước đế quốc tranh giành xâu xé Trung Quốc cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
- Chủ nghĩa tam dân: Học thuyết của Tôn Trung Sơn với mục đích dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc

- Thiên chúa giáo: Một trong hai giáo phái của Cơ đốc giáo. Cuối thế kỷ IV (năm 395), khi đế quốc Rôma phân chia thành hai quốc gia (Đông bộ và Tây bộ đế quốc Rôma), hai tổ chức giáo hội có ảnh h¬ởng lớn nhất ở hai khu vực ấy. Trong đế quốc Rôma luôn tranh giành thế lực với nhau trong thế giới Cơ đốc giáo. Sự tranh giành ấy biểu hiện ở những cuộc tranh chấp về những vấn đề giáo lý, ghi lễ và cuối cùng dẫn đến chỗ giáo hội Cơ đốc tách thành giáo hội Thiên chúa (ở ph¬ơng Tây) và giáo hội Chính thống (ở ph¬ơng Đông). Giáo lý chủ yếu của Thiên chúa giáo là học thuyết về địa vị bá chủ của Giáo hoàng Rôma trong giáo hội, thừa nhận Giáo hoàng "đại diện toàn quyền của Chúa cứu thế trên Trái Đất", "không bao giờ sai lầm trong công việc tín ng¬ưỡng". Thời trung đại, ở châu Âu, giáo hội Thiên chúa giáo là một thế lực phong kiến bao trùm, dùng mọi ph¬ơng tiện để gây ảnh h¬ởng trong quần chúng, bảo vệ chế độ phong kiến. Trong thời kỳ cách mạng t¬ sản, Thiên chúa giáo là ngọn cờ và vũ khí tinh thần của thế lực phản động phong kiến chống các lực l¬ợng cách mạng. Thời kỳ t¬ bản chủ nghĩa, giáo hội Thiên chúa bảo vệ quyền lợi cho giai cấp t¬ sản. Hiện nay giáo hội Thiên chúa giáo là một trong những giáo hội có tín đồ đông nhất thế giới.
- Bạo động: Dùng sức mạnh vũ trang nhằm lật đổ, thay đổi những người thống trị, hoặc để chống lại lực lượng tiến bộ.
- Cải cách: Đổi mới cho tiến bộ hơn, cho phù hợp với sự phát triển chung của xã hội mà không đụng tới xã hội hiện hành.
- Xâm chiếm: Dùng các biện pháp quân sự, chính trị...giành lấy đất đaicủa một nước khác

- Ai Cập trẻ: Tổ chức chính trị bí mật của một số trí thức và sĩ quan yêu nước ở Ai Cập, do Đại tá Át-mét A-ra-bi đứng đầu, được thành lập năm 1879. Tổ chức này tập hợp những thanh niên yêu nước, thực hiện nhiều cải cách mang tính chất tư sản, nhưng cuối cùng các nước đế quốc đã dùng quân sự để can thiệp, ngăn chặn cuộc đấu tranh yêu nước của tổ chức này.
- Học thuyết “Liên minh dân tộc các nước cộng hòa châu Mĩ” (gọi tắt là Liên Mĩ): Học thuyết này được thành lập năm 1889, do các nhà chính trị, tư tưởng, xã hội Mĩ tuyên truyền rộng rãi. Theo họ, đây là tư tưởng thống nhất quyền lợi và đoàn kết giữa các nước châu Mĩ, dựa trên quan điểm cho rằng những nước này giống nhau về nhân chủng, kinh tế và văn hóa. Nước Mĩ lợi dụng tư tưởng này để che giấu những chính sách bành trướng thế lực của mình ở khu vực Mĩ La-tinh. Mĩ tuyên truyền học thuyết này cũng nhằm chống lại cuộc đấu tranh của các dân tộc khu vực Mĩ La-tinh giành độc lập dân tộc và tự do phát triển kinh tế, chính trị theo xu hướng tiến bộ (vì đã giống nhau về nhân chủng, kinh tế và văn hóa thì không nên đấu tranh, chống lại nhau).
- “Học thuyết Mơn- rô”: Tên gọi một học thuyết, bắt nguồn từ tuyên bố của Tổng thống Mỹ Mơn-rô về các vấn đề đối ngoại, được gửi lên Quốc hội Mĩ ngày 2-12-1923. Học thuyết Mơn-rô đưa ra nhằm gạt bỏ ảnh hưởng của các nước châu Âu khỏi khu vực Mĩ La-tinh, thực hiện theo chủ trương “Châu Mĩ của người châu Mĩ”.
Học thuyết Mơn-rô đã mở đầu cho quá trình bành trướng và xâm lược của tư bản Mĩ vào khu vực Mĩ La-tinh ngay sau đó.
- Chính sách “Ngoại giao bằng đồng đô la”: Chính sách của Mĩ trong quan hệ đối ngoại, nhằm thông qua viện trợ kinh tế, tiền tệ và đầu tư để bành trướng ra bên ngoài, lôi kéo các nước vào quỹ đạo của mình.
Thuật ngữ “Ngoại giao bằng đồng đô la” được bắt đầu sử dụng dưới thời Tổng thống Mĩ Ta-pha-ta (1909-1913) trong việc tăng cường ảnh hưởng của Mĩ sang các nước Mĩ La-tinh và được các tổng thống kế nhiệm thực hiện.
- Chính sách “Cái gậy lớn” (còn được gọi là Cái gậy lớn và củ cà rốt): Chính sách đối ngoại của các nước đế quốc, đặc biệt là Mĩ dựa trên thế mạnh để bắt nạt các nước nhỏ, song lại tỏ ra “nhân đạo”, như hỗ trợ kinh tế, viện trợ đô la, giúp đỡ để mà ràng buộc chặt chẽ hơn. Đây là trò lừa bịp, che đậy dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, bị nhân dân thế giới lên án. Từ cuối thế kỉ XIX, để gạt bỏ bỏ ảnh hưởng của các nước châu Âu khỏi khu vực Mĩ La-tinh và thực hiện chủ trương “Châu Mĩ của người châu Mĩ”, các đời tổng thống Mĩ đã đưa ra nhiều chính sách, trong đó có chính sách “Cái gậy lớn” và “Ngoại giao bằng đồng đô la”.

- Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918): Chiến tranh đế quốc, phi nghĩa, do kết quả của cuộc khủng hoảng của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới và cuộc đấu tranh giữa các nước đế quốc chủ nghĩa lớn nhằm phân chia lại thế giới và phạm vi ảnh hưởng. Đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn giữa hai khối đế quốc chủ nghĩa là phe Hiệp ước gồm Anh, Pháp, Nga với phe Liên minh Đức, Áo, Hung và Italia trở nên hết sức gay gắt. Mùa hè 1914, chiến tranh bùng nổ và đến tháng 11 - 1918 thì kết thúc. Thắng lợi thuộc về phe Đồng minh. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã cún hút 33 nước với hơn 1.500 triệu người tham gia vào vòng chiến. Nhân loại đã bị tổn thất lớn trong cuộc chiến tranh này: 10 triệu người bị chết; 20 triệu người bị thương, bị tàn phế và bị nhiễm hơi độc; nhiều tài sản bị phá hủy trị giá hàng nghìn tỷ đôla.
- Phòng ngự: Giai đoạn chiến tranh có đặc điểm nổi bật là một bên (hoặc cả hai bên) hành động chủ yếu nhằm bảo vệ lực lượng của mình khỏi bị đối phương tiêu diệt, không tiến hành những cuộc tiến công chiến lược.
- Quân phiệt
1. Chính sách phản động của các nước đế quốc trong việc vũ trang và tiến hành chiến tranh xâm lược.
2. Bọn quân nhân phản động dựa vào lực lượng quân độ để nắm quyền bính, kìm kẹp, đàn áp nhân dân và các phe phái đối lập chống lại chúng: Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.
- Trung lập : Nước tuyên bố không tham gia chiến tranh, không đứng về một bên nào trong hai phe đối địch
- Đầu hàng: Chịu thua trong chiến tranh và tuân thủ các điều kiện của bên thắng trận

- Văn hóa: Là khái niệm, phạm trù lớn dùng để chỉ toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của nhân loại. Song, ở bài này chỉ giới hạn về những thành tựu văn học, nghệ thuật, tư tưởng,… để bổ sung cho những kiến thức HS đã học về khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật.
- Học thuyết “Chủ nghĩa xã hội không tưởng”: Học thuyết xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa trong chế độ tư bản, do Xanh-xi-mông (1760-1825), Phu-ri-ê (1772-1837) ở Pháp và Ô-oen (1771-1858) ở Anh sáng lập hồi đầu thé kỉ XIX.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng đã góp phần tố cáo mạnh mẽ sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với nhân dân lao động, nhưng không đề ra được con đường đấu tranh cách mạng đúng đắn để giải phóng giai cấp công nhân và người dân lao động. Họ chỉ dừng lại ở ước mơ muốn có một xã hội tốt đẹp, công bằng, một cuộc sống không có nghèo khổ và áp bức. Họ chỉ tuyên truyền, cổ động mà không đấu tranh, không muốn xóa bỏ chế độ tư bản  mọi ý tưởng của họ đưa ra không thực hiện được, gọi là không tưởng.
- Học thuyết “Chủ nghĩa xã hội khoa học”: Học thuyết do C.Mác và Ăngghen sáng lập, được Lê-nin tiếp tục phát triển. Học thuyết nói về sự phát triển của xã hội, về những quy luật chung, về con đường và hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản, về cách mạng xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng chế độ mới tiến bộ hơn, tiến đến chế độ cộng sản chủ nghĩa.
Ngày nay, chủ nghĩa xã hội khoa học là một bộ phận của chủ nghĩa Mác-Lênin (được hình thành dựa trên ba yếu tố là Triết học cổ điển Đức – triết học duy vật biện chứng, Kinh tế chính trị Anh và Chủ nghĩa xã hội không tưởng). Chủ nghĩa xã hội khoa học còn được hiểu là Chủ nghĩa cộng sản khoa học.
- Triết học Ánh sáng: Trào lưu triết học của giai cấp tư sản đang lên ở châu Âu (thế kỉ XVI, nhất là thế kỉ XVIII –XIX), nổi bật ở Pháp, diễn ra vào “Thế kỉ Ánh sáng” (còn được gọi là Chủ nghĩa khai sáng). Những nhà tư tưởng tiến bộ của giai cấp tư sản kịch liệt tố cáo sự áp bức, bóc lột của chế độ quân chủ chuyên chế va công khai đả kích Giáo hội Thiên chúa – chỗ dựa tinh thần của phong kiến. Đây là công cuộc chuẩn bị về mặt tư tưởng cho các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ.
- Bách khoa toàn thư: Những nhà khai sáng Pháp tham gia soạn thảo bộ ‘Bách khoa toàn thư” ở Pháp vào cuối thế kỉ XIX, do Đi-đơ-rô đứng đầu. Đại diện cho một hệ tư tưởng mới đang lên, họ đấu tranh chống lại chế độ phong kiến chuyên chế và giáo hội Thiên chúa, nêu lên những nguyên tắc chủ yếu của Nhà nước tư sản mới. Họ là tác giả bộ “Bách khoa toàn thư”, giới thiệu những thành tựu của nhiều ngành khoa học lúc bấy giờ. Phái Bách khoa toàn thư Pháp có vai trò to lớn trong việc chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ và giành thắng lợi trong những năm 1789 – 1794.



- Cách mạng dân chủ tư sản: Cách mạng tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo, quần chúng nhân dân là động lực chính, nhằm đánh đổ chế độ phong kiến đã lỗi thời, giành dân chủ.Sau khi cách mạng thành công, giai cấp tư sản lập chế độ cộng hoà, nắm quyền thống trị thay cho giai cấp phong kiến. Cách mạng đã mở đường cho chủ nghĩa tư bản dành độc lập và phát triển . Trong cách mạng dân chủ tư sản đông đảo quần chúng nhân dân ( công nhân, nông dân) đưa ra những yêu sách về kinh tế, chính trị của mình, gây ảnh hưởng đến phát triển của cách mạng tư sản; một số yêu sách vượt khỏi giới hạn mà giai cấp tư sản đặt ra cho mình.
- Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới: cách mạng làm nhiệm vụ cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, sau khi thắng lợi sẽ chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Cách mạng tháng mười Nga (1917): Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và thắng lợi ở Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, đứng đầu là V.I Lênin. Cuộc khởi nghĩa ở Pêtơrôgrát ( nay là Xanh Pêtécbua) nổ ra ngày 7-11-1917 (theo lịch cũ của Nga là ngày 25-10) đã mở đầu cuộc cách mạng và nhanh chóng lan rộng, thắng lợi khắp nơi trên lãnh thổ Nga. Chính quyền Xô Viết được thành lập. Nhân dân Nga tiếp tục cuộc chiến đấu chống thù trong giặc ngoài (sự can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc) để bảo vệ chính quyền Xô Viết. Nhân dân thế giới, đi đầu là giai cấp công nhân, đã hoan nghênh Cách mạng tháng Mười, ủng hộ nước Nga Xô Viết.
Cách mạng tháng Mười mở đầu một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Nó có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới, quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người, đem lại nhiều bài học kinh nghiệm đối với phong trào công nhân và có ảnh hưởng to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc.
- Cộng hòa: Thể chế chính trị của một nước không có vua đứng đầu nhà nước, mà do đại biểu được nhân dân bầu ra cầm quyền (bằng phổ thông đầu phiếu hay một số người đại diện): Chế độ cộng hòa xã hội chủ nghĩa thực sự đem lại quyền lợi cho nhân dân Việt Nam.
- Cộng sản thời chiến: Chính sách kinh tế của nước Nga Xô viết trong nội chiến 1918 - 1922, nhằm động viên mọi sức người, sức của để bảo vệ Tổ quốc. Nội dung: quốc hữu hóa toàn bộ công nghiệp lớn và vừa, phần lớn cơ sở công nghiệp nhỏ, tập trung đến mức tối đa lãnh đạo sản xuất công nghiệp và phân phối, trưng thu lương thực, cấm buôn bán tư nhân, cung cấp hàng hóa cho nhân dân theo kế hoạch (chế độ tem phiếu), nghĩa vụ lao động đối với mọi người. Biện pháp bắt buộc tạm thời áp dụng trong thời chiến. Năm 1921, được thay thế bằng Chính sách kinh tế mới (NEP).
- Chính phủ lâm thời: Chính phủ được thành lập trong thời gian trước khi thành lập chính phủ chính thức theo Hiến pháp
- "Sắc lệnh về hòa bình"(còn gọi "Sắc lệnh hòa bình")
Pháp lệnh đầu tiên của Nhà nước Xô viết, do Lênin thảo ra và được Đại hội đại biểu Xô viết toàn Nga lần thứ hai thông qua, ngày 8 - 11 - 1917. Sắc lệnh đề nghị ký kết một hòa ước với những điều kiện công bằng, hợp lý với tất cả các dân tộc, tức là một hòa ước không có bồi thường chiến tranh. Sắc lệnh cũng nêu ra những nguyên tắc quan trọng về quan hệ quốc tế kiểu mới trên cơ sở thiết lập một nền hòa bình giữa các dân tộc, thừa nhận quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nền độc lập của tất cả quốc gia.
- "Sắc lệnh về ruộng đất": Còn gọi "Sắc lệnh ruộng đất". Pháp lệnh được thông qua tại Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ hai (8 - 11 - 1917), giải quyết ruộng đất cho nông dân: Thủ tiêu không bồi thường ruộng đất của địa chủ, quý tộc, các sở hữu lớn khác; quốc hữu hóa toàn bộ ruộng đất.
- Quốc hữu hóa: Chuyển các hình thức sở hữu tư nhân thành sở hữu nhà nướcvề ruộng đất, xí nghiệp, cơ sở giao thông, bưu điện, ngân hàng
- Quốc hữu hóa xã hội chủ nghĩa: Viẹc chính quyền vô sản tịch thu tài sản của giai cấp bóc lột và biến thành tài sản của nhà nước xã hội chủ nghĩa, tức là của toàn dân

- Chính sách kinh tế mới (viết tắt theo tiếng Nga là Nep): Chính sách của nước Nga Xô Viết trong thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội, bắt đầu từ năm 1921 để thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến. Nhiều biện pháp mới được thực hiện như thay việc trưng thu lương thực bằng thuế lương thực, cho phép tư nhân buôn bán, mở các xí ngiệp tư bản nhỏ, mở rộng chủ nghĩa tư bản nhà nước, thay thuế bằng hiện vật thuế tiền....
- Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa: Quá trình công nghiệp hóa dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhằm cải tạo sản xuất, phát triển công nghiệp và nền kinh tế quốc dân để nâng cao đời sống của toàn dân
- Tập thể hóa nông nghiệp: Một hình thức cải tạo sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp nhằm tổ chức các nông dân cá thể theo con đường xã hội chủ nghĩa (với các hình thức tổ đổi công, tổ hợp sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã cấp thấp, hợp tác xã cấp cao, nông trang tập thể ). Thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực nông nghiệp ở Liên Xô (1928 - 1933)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
taekwondo117
Moderators
Moderators


Tổng số bài gửi : 64
Join date : 19/06/2011
Age : 21
Đến từ : La2 city

Bài gửiTiêu đề: Re: Một số thuật ngữ trong sử 11   Wed Sep 21, 2011 9:51 pm

doc. xong thi sao bay day` dau`...hjx... dau mat lun... nhung du sao van tk pe bu. de thuong...hehe

_________________
¿§aø†aëk¿

Tự do là ung dung trong ràng buộc . Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Một số thuật ngữ trong sử 11
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Một số thuật ngữ trong giám định mớn nước
» Xin giải đáp một số thuật ngữ trong Mua Bán Tàu
» Giáo dục công dân trong thời đại mới
» Giáo trình môn Kỹ Thuật Điện Tử
» Hỏi thông tin về nồi hơi kinh tế trên tàu thủy

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Wellcome to A1 the minions of paba Phương :: Góc học tập :: Khoa học xã hội :: Lịch sử-
Chuyển đến